Cho đến năm 2017 những nền kinh tế yếu kém nhất trong cuộc khủng hoảng nợ Châu Âu giờ ra sao?

Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Ireland đã phải yêu cầu các khoản cứu trợ trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, trong khi Tây Ban Nha và Ý cũng suýt phải làm điều tương tự. Ở thời điểm hiện tại, các nền kinh tế này đều cho thấy những tín hiệu tích cực nhất định, nhưng chính phủ của các quốc gia này vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

Jean-Claude Juncker ca ngợi sự phục hồi kinh tế của châu Âu, viễn cảnh gần như không thể tưởng tượng được vào giai đoạn đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng nợ ở EU hồi năm 2010. Vào thời điểm đó, mối quan tâm hàng đầu là một số ít các quốc gia yêu cầu viện trợ – Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Ireland – hay suýt phải yêu cầu giải cứu như Tây Ban Nha và Ý. Hiện tại tình hình của các quốc gia này như thế nào?

Bồ Đào Nha

Bỏ lại đằng sau ký ức đáng buồn của gói cứu trợ 78 tỷ Euro vào năm 2011, Bồ Đào Nha sắp đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây. Đối với chính phủ của thủ tướng António Costa, thành công kinh tế đã đến với quốc gia này sau khi bỏ được chính sách thắt lưng buộc bụng bị áp đặt bởi EU và IMF trong giai đoạn 2011 – 2014.

Lương và tiền trợ cấp khu vực quốc doanh đã được hồi phục như giai đoạn trước khủng hoảng, nhưng chính phủ khả năng cao sẽ phải đối mặt với bất đồng trong tương lai với EU, khi Brussels đang tìm cách để giảm nợ của Bồ Đào Nha.

Ireland

Bất chấp tình hình biến động của Brexit sắp xảy ra, Ngân hàng trung ương của Ireland vẫn tiếp tục dự báo tăng trưởng cho nền kinh tế của quốc gia này, dù với tốc độ chậm hơn trước. Tuy nhiên, không phải ai cũng bị thuyết phục bởi câu chuyện tăng trưởng này.

Cựu thủ tướng Enda Kenny đã bị bỏ phiếu rời khỏi văn phòng trong năm nay vì có ít cử tri cảm nhận được sự hồi phục của nền kinh tế. Mức tăng trưởng 26% của năm 2015 được ví là “nền kinh tế yêu tinh” để ám chỉ về việc tránh thuế cao của các công ty đa quốc gia bằng cách đặt trụ sở ở Ireland giống như cách các yêu tinh trong truyện cổ Ireland giấu vàng trong hũ vậy, và con số tăng trưởng đó chỉ là ảo.

Các công ty đa quốc gia lớn tìm cách bảo vệ lợi nhuận đã chuyển trụ sở và tài sản trí tuệ của họ đến Ireland, dẫn đến GDP tăng đột biến tại quốc gia này. Nhưng trên thực tế, hành động này không tạo ra sự thay đổi nào cho nền kinh tế thực (lợi nhuận, sự phát triển và tạo việc làm mới) của Ireland, do hoạt động sản xuất thực sự của họ vẫn được thực hiện ở nước ngoài.

Thêm vào đó, ngân khố của quốc gia này cũng phụ thuộc rất nhiều vào một số ít công ty lớn, khiến cho nền kinh tế ở một trạng thái dễ bị tổn thương.

Hy Lạp

Nếu nhìn qua, Hy Lạp có thể đang có những dấu hiệu hồi phục: các nhà máy mở rộng sản xuất, người dân đang tìm việc làm. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, đất nước này vẫn đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế. Nó đã làm cho nền kinh tế của Hy Lạp sụt giảm 25%. Hơn 1/5 người trưởng thành trong độ tuổi lao động và 45% người trẻ tuổi thất nghiệp.

Nợ nần chồng chất tạo gánh nặng lớn lên nền kinh tế, trong khi những nhà cho vay yêu cầu thặng dư ngân sách của Hy Lạp ở mức cao, điều được coi là không thực tế bởi nhiều nhà kinh tế học. Dù đã có những tia sáng phía cuối đường hầm, nhưng sự phục hồi thực sự của quốc gia này vẫn khó có thể xảy ra.

Tây Ban Nha

Learn Spanish

Tây Ban Nha là một trong những điểm sáng nhất trong khu vực đồng Euro: vào tháng 7 năm 2017, nền kinh tế lớn thứ tư của EU quay trở lại với tốc độ tăng trưởng trước khủng hoảng. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

Tỷ lệ thất nghiệp đang giảm nhanh, dù ở mức vẫn còn cao là 17%. Thủ tướng Mariano Rajoy đã đưa ra những cải cách tạo điều kiện cho việc sa thải người lao động dễ dàng hơn. Một số chuyên gia cho rằng đó là biện pháp để kích thích việc thuê nhân công. Nhưng bất chấp những cải cách đó, Tây Ban Nha vẫn có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất ở châu Âu, chỉ xếp sau Hy Lạp. Tình trạng bất bình đẳng đã tăng lên và tiền lương vẫn chưa được cải thiện.

Italy

Nền kinh tế lớn thứ 3 EU đang hưởng lợi từ sự tăng trưởng trên khắp châu lục, nhưng những mối lo lắng vẫn chưa biến mất.

Ở Ý, tỷ lệ thất nghiệp đang giảm và các nhà máy đang tăng cường sản xuất, nhờ nhu cầu gia tăng. Trong khi đó, gói cứu trợ của ngân hàng lâu đời nhất của Italy và sự cứu nguy của 2 nhà cho vay đã giúp tăng cường sự tin tưởng.

Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đang nợ nần chồng chất bởi nợ xấu: tổng số nợ xấu của Italy lên tới 174 tỷ Euro, theo Bloomberg. Một câu hỏi lớn hơn là liệu Italy, đối mặt với cuộc bầu cử vào năm 2018, có thể tạo ra sự đồng thuận về chính trị để thực hiện cải cách về các vấn đề đã gây nhức nhối trong thời gian dài như cải thiện năng suất, giảm nợ, và tăng quỹ cho các trường đại học, được hay không.

Theo K Nguyễn

Thời Đại

Những tín hiệu phục hồi tích cực từ phân khúc Bất Động Sản hạng sang ở London

Theo báo cáo của Savills Plc, giá nhà tại những khu vực sang trọng bậc nhất London sẽ tăng khoảng 20,3% trong 5 năm tới, khi mối lo ngại nước Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) – Brexit nhạt dần và vai trò trung tâm tài chính toàn cầu của Thành phố thu hút khách hàng quốc tế.

Dự báo, giá bất động sản (BĐS) tại khu vực trung tâm London sẽ bình lặng trong năm 2018 khi người mua chờ đợi viễn cảnh rõ ràng hơn về tác động của Brexit và bắt đầu tăng trở lại vào năm 2019. Điều này sẽ chấm dứt đà giảm hơn 15,2% so với mức đỉnh năm 2014 vừa diễn ra. Tại các khu vực khác, vốn ít có sự phụ thuộc vào khách hàng quốc tế, giá nhà sẽ tăng 10,2% trong 5 năm cho tới năm 2022.

Trong thời gian qua, doanh số bán BĐS hạng sang tại London đã phải chống chọi với nhiều yếu tố bất lợi gồm các đợt tăng thuế liên tiếp, tính chất bất ổn từ Brexit. Theo kết quả khảo sát trong tháng 6, Thủ tướng Anh Theresa May đang đánh mất sự ủng hộ của số đông tại Nghị viện. Số liệu của Savills cho thấy, số lượng các chủ nhà giảm giá với BĐS có giá trị lớn hơn 1 triệu bảng (1,35 triệu USD) đã tăng 90% trong nửa đầu năm nay, so với cùng kỳ năm ngoái.

Năm 2016, Savills dự báo giá nhà tại khu vực trung tâm London sẽ tăng 20,8% trong 5 năm tới năm 2021, trong khi giá nhà tại các khu vực khác sẽ tăng 14,6% trong cùng giai đoạn.

Giám đốc nghiên cứu toàn cầu tại Savills Yolande Barnes đánh giá, các rủi ro liên quan tới việc London đánh mất vị thế là trung tâm tài chính toàn cầu đã bị thổi phồng quá đà.

Tuy bị thách thức bởi các thành phố khác trên thế giới, nhưng London vẫn duy trì một cách chắc chắn vai trò là trung tâm tài chính quan trọng toàn cầu và sẽ phát triển thành một trong số vài trung tâm công nghệ tại châu Âu. Do vậy, thị trường BĐS sẽ được hưởng lợi từ thế hệ những cư dân bản địa giàu có mới, cũng như thu hút thêm các khách hàng quốc tế nhiều tiền.

Savills ước tính, hiện có khoảng 394.000 BĐS tại Anh có giá trị hơn 1 triệu bảng, với tổng giá trị đạt 883 tỷ bảng. Trong số này, 63% nằm tại London.

Hiện tại, BĐS hạng sang tại London đang có những tín hiệu phục hồi tính cực hơn, khi giá nhà nhích nhẹ nhờ người mua “bắt đáy” và các nhà đầu tư nước ngoài tận dụng cơ hội đồng bảng xuống giá. Doanh số bán nhà sau khi giảm mạnh trong một thời gian dài đã tăng 14% so với năm trước đó.

Knight Frank LLP cho biết, đồng bảng yếu hơn, cùng với việc giá nhà đi xuống đồng nghĩa BĐS hạng sang khu vực trung tâm London hiện tại rẻ hơn 20% nếu tính bằng USD, so với trước khi cuộc trưng cầu dân ý rời khỏi EU diễn ra.

(Theo Đầu tư chứng khoán)

16 quốc gia tốt nhất thế giới dành cho trẻ em năm 2017

Để vinh danh Ngày Trẻ em vào ngày 31/5 vừa qua, Tổ chức Cứu trợ trẻ em Phi chính phủ quốc tế đã công bố “Chỉ số Kết thúc thời thơ ấu năm 2017”.

Bảng xếp hạng làm nổi bật những nơi tốt nhất và tồi tệ nhất để trẻ lớn lên ở 172 quốc gia, có tính đến những thứ như tỷ lệ tử vong, luật lao động trẻ em, đe dọa bạo lực và tỷ lệ bệnh tật.

Những nơi tốt nhất cho trẻ em, theo báo cáo, cho thấy khả năng tiếp cận phong phú các chương trình chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và hỗ trợ xã hội. Nói tóm lại, họ để trẻ được là trẻ con.

“Chúng tôi tin rằng mỗi đứa trẻ xứng đáng có một khởi đầu lành mạnh, cơ hội học hỏi và được bảo vệ khỏi tổn thương”, Richard Bland đã phát biểu.

Dưới đây là 16 quốc gia hàng đầu, xếp loại từ ít nguy cơ đe doạ đến tuổi thơ các em nhất đến nguy cơ cao hơn.

1. Na Uy – 985

2. Slovenia – 985

3. Phần Lan – 983

4. Hà Lan – 982

5. Thụy Điển – 982

6. Bồ Đào Nha – 981

7. Ireland – 980

8. Iceland – 979

9. Ý – 979

10. Bỉ – 978

11. Cộng Hòa Síp – 978

12. Đức – 978

13. Hàn Quốc – 978

14. Pháp – 976

15. Tây Ban Nha – 974

16. Nhật Bản – 974

Tổ chức Cứu Trợ Trẻ em đã đưa ra bảng xếp hạng dựa trên tám chỉ số của cái gọi là “Kết thúc Thời thơ ấu”, bao gồm tám sự kiện hay yếu tố tước trẻ em khỏi thời thơ ấu của chúng. Một trong những yếu tố kết thúc là cuộc hôn nhân thời thơ ấu mà tổ chức tính toán dựa trên tỷ lệ trẻ em ở một quốc gia nhất định đã kết hôn. “Đứa trẻ là nạn nhân của bạo lực quá khích” thì yếu tố kết thúc thời thơ ấu được xác định bởi cả tỷ lệ giết người ở thanh thiếu niên và tỷ lệ phần trăm trẻ em bị buộc phải di tản do xung đột.

Con số nói lên tất cả, thời thơ ấu của gần 700 triệu trẻ em trên khắp thế giới đang “kết thúc”, Tổ chức Cứu trợ Trẻ em nhận xét.

Các nước có điểm thấp nhất trên tám yếu tố này được coi là những nơi tốt nhất để trẻ lớn lên. Mỹ đứng ở vị trí thứ 36, ngay dưới Boznia & Herzegovina và ngay trên Nga. Bland nói rằng kết quả không tốt này chủ yếu là do tử vong ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ này ở Mỹ là một trong những tỷ lệ cao nhất trong số những quốc gia công nghiệp hóa.

Bland nói: “Các quốc gia có thể kéo dài thời thơ ấu cho những công dân trẻ nhất của họ bằng cách hỗ trợ các chương trình hiệu quả ngăn ngừa tử vong do các căn bệnh có thể chủng ngừa như sốt rét hoặc cúm, và cũng bằng cách cung cấp các chương trình giáo dục sớm sau giờ học.” Một bằng chứng mạnh mẽ cho thấy giáo dục cung cấp cho trẻ một loạt các lợi ích mà nhiều trong số đó không liên quan gì đến các chương trình học giả.

Bland cho biết thêm: “Báo cáo này là nỗ lực của chúng tôi để nhắc nhở các quốc gia và nhà hoạch định chính sách rằng những yếu tố kết thúc thời thơ ấu này đang cướp đi khả năng có một tương lai của trẻ em.

Jane Phan (Dịch theo Business Insider)

Du Lịch Châu Âu: 13 thiên đường đang chờ được khám phá ở châu Âu

Châu Âu có rất nhiều điểm du lịch nổi tiếng và đôi khi bạn có thể bỏ qua những thiên đường tuyệt đẹp chỉ vì phải đứng trước quá nhiều lựa chọn khác nhau.

Berat (Albania) là một trong những thành phố có dân định cư lâu nhất thế giới (từ năm 314 TCN), được mệnh danh là “thành phố nghìn cửa sổ” với những ngôi nhà sơn trắng theo kiến trúc Ottoman chạy dọc thung lũng sông. Chuyến ghé thăm Berat tựa như quay ngược lại thời gian để thấy quá trình phát triển của văn hóa phương Đông và phương Tây. Ảnh: Shkendijatravel.

Schwangau là nơi tọa lạc 2 lâu đài hoàng gia vùng Bavaria, Đức. Nhiều người cho rằng biểu tượng của hãng phim nổi tiếng Walt Disney dựa vào lâu đài cổ tích Neuschwanstein trên đỉnh núi ở đây. Ảnh: Tzsfo.

Bờ biển Adriatic không thể sánh với phong cảnh ở Sveti Stefan, hòn đảo nhỏ ngoài khơi Montenegro. Nơi đây sở hữu một số khách sạn đẹp, kết nối với đất liền thông qua một dải đất hẹp với bãi biển nổi tiếng. Ảnh: Catherinewhitworth.

Du khách có thể đi hết “tiểu Prague” trong 20 phút, nhưng hành trình thực sự sẽ tốn nhiều thời gian hơn nhờ vẻ đẹp kiến trúc nơi đây. Cesky Krumlov (Cộng hòa Czech) là di sản thế giới được UNESCO công nhận, sở hữu một lâu đài nhìn xuống sông Vltava và khu phố cổ. Ảnh: World for Travel.

Hòn đảo Địa Trung Hải ở ngoài khơi Croatia thường bị đánh giá thấp. Tuy nhiên, Hvar có tất cả tiềm năng để phát triển du lịch. Bên cạnh bãi biển đẹp, đồ ăn ngon và kiến trúc thú vị, nơi đây còn là thiên đường với những người thích trải nghiệm cuộc sống về đêm rất phong phú. Ảnh: Laviwashere.

“Tiểu Venice” trên đất Pháp có nhiều con đường hẹp quanh co dọc theo những ngôi nhà gỗ đầy màu sắc phong cách Trung cổ. Đi bộ là cách tốt nhất để khám phá Colmar vì những bảo tàng và phòng triển lãm có ở khắp nơi. Ảnh: Istock.

Chỉ cách thủ đô Athens một chuyến phà ngắn, Andros là nơi nghỉ dưỡng phổ biến của người Hy Lạp. Hòn đảo gần như không thay đổi suốt nhiều thập kỷ. Du khách sẽ tìm thấy nhiều bãi biển hoang vắng để thư giãn cả ngày, chưa kể đến những thị trấn ven biển tuyệt đẹp như Chora. Ảnh: dzc80.

Thị trấn Piran yên bình ở Slovenia thường được ví với Venice. Biển bao quanh vùng đất thiên đường cùng những ngôi nhà nhiều màu sắc tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp. Ngoài ra, quảng trường Tartini rộng lớn là nơi lý tưởng để thưởng thức cocktail và ngắm cảnh. Ảnh: Topdeck Travel.

Chỉ riêng Bãi biển Vàng ở bờ biển phía bắc Malta cũng khiến Mellieha xứng đáng ghé thăm. Tuy nhiên, du khách cũng sẽ tìm thấy nhiều thắng cảnh khác, chẳng hạn như những rạn san hô ven biển đẹp nhất châu Âu, hay làng Popeye, bộ phim đã biến nơi đây thành khu nghỉ dưỡng. Ảnh: Dbhotelsresorts.

Thủ đô Vaduz của Liechtenstein nằm bên dòng sông Rhine, gần biên giới với Thụy Sĩ. Thành phố cổ kính này có từ thế kỷ 12. Điểm đến nổi tiếng nhất là lâu đài Vaduz, nơi ở chính thức của hoàng tử. Ảnh: Free Nature Pictures.

Vernazza sở hữu những thị trấn ven biển đẹp nhất Italy. Du khách có thể trải nghiệm nhảy từ vách đá xuống biển ở gần lối vào cảng, hay thưởng thức đồ uống và đồ ăn nhẹ buổi tối ở gần cửa biển, xung quanh là những căn hộ đầy màu sắc. Ảnh : Amazingplanetnews.

Hãy thoát khỏi sự hối hả, nhộn nhịp của thủ đô Brussels (Bỉ) và hướng về phía nam để tới Dinant, một thị trấn ven sông với kiến trúc thời Trung cổ đẹp đến nghẹt thở. Đừng bỏ lỡ Quần thể Nhà thờ Đức Bà Dinant, một nhà thờ kiểu gothic từ thế kỷ 13. Ảnh: Ilias65.

Chỉ với 2 con phố dẫn tới quảng trường chính, thị trấn Carvoeiro yên tĩnh nổi tiếng nhờ những ngư dân hơn là cuộc sống về đêm. Thị trấn này ở gần động Benagil, một trong những kỳ quan thế giới ấn tượng nhất của Bồ Đào Nha. Ảnh: Travelsjade.

Ánh Ngọc

Du khách có thể sẽ không còn được cấp visa Schengen

Ủy ban châu Âu (EC) đang đề xuất bổ sung quy định mới cho Hiệp ước Schengen, nhằm tái thiết lập việc kiểm soát biên giới giữa 26 nước thành viên trong khối.

Do lo ngại tình hình an ninh khu vực, Ủy ban châu Âu (EC) đang đề xuất bổ sung quy định mới cho Schengen, hiệp ước thỏa thuận tự do đi lại giữa 26 quốc gia châu Âu. Trong đó, thành viên khối Schengen sẽ quay lại thực hiện các biện pháp kiểm soát biên giới tạm thời trong thời hạn 3 năm.

Ông Frans Timmermans, Phó chủ tịch EC, cho biết: “Những quy định về việc tái thiết lập kiểm soát biên giới trong khối của Luật Biên giới Schengen được đưa ra trong một thời đại khác, với những thách thức khác. Trường hợp đặc biệt như hiện tại, khi các mối đe dọa khủng bố gia tăng, khiến chúng tôi soạn thảo một Luật Biên giới Schengen mới phù hợp với tình hình thực tế”.

Hiệp ước Schengen chính thức được ký kết ngày 27/11/1990, quy định quyền tự do đi lại của công dân các nước thành viên. Khối Schengen gồm 26 quốc gia: Áo, Bỉ, Cộng hòa Czech, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Iceland, Italy, Latvia, Liechtenstein, Lithuania, Luxembourg, Malta, Hà Lan, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Thụy Sĩ.

Theo liên minh châu Âu (EU), hơn 400 triệu người, gồm công dân thuộc EU, khách du lịch và người nước ngoài đang tự do đi lại qua biên giới các nước trong khối Schengen.

Tuy nhiên, đề xuất này cần được Hội đồng châu Âu và Nghị viện châu Âu (EP) thông qua.

 

Những thành phố châu Âu “khốn khổ” vì quá nhiều du khách

Được quá nhiều khách du lịch ghé thăm đang trở thành một điều phiền toái đối với không ít thành phố ở châu Âu…

Theo hãng tin CNN, người dân ở những thành phố hút du kháchnhất châu Âu phàn nàn rằng thành phố của họ đang bị phá hủy bởi sự ồn ào, môi trường ô nhiễm, và giá cả tăng cao do du khách gây ra.

Dù không thể phủ nhận ngành du lịch đã mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế địa phương, sự phản đối của người dân địa phương đối với lượng du khách khổng lồ đã được thể hiện rõ trong mùa hè năm nay ở một loạt thành phố như Barcelona, Venice, Dubrovnik, và Prague. Lượng du khách đến các thành phố này tăng vọt nhờ giá vé máy bay rẻ và những dịch vụ lữ hành mới như Airbnb.

“Một số thành phố châu Âu đang chịu sức ép của lượng du khách quá lớn”, các nhà phân tích thuộc Euromonitor International viết trong một báo cáo mới đây. “Rõ ràng là cần phải có chiến lược để ứng phó với nhu cầu du lịch lớn”.

Dưới đây là cách một số thành phố châu Âu đang áp dụng để ứng phó với lượng du khách lớn:

Venice

Các nhà phân tích nói rằng lượng du khách tăng và giá cả bị đẩy lên đã khiến dân số của Venice suy giảm mạnh. Trong vòng 50 năm qua, dân số của thành phố nổi tiếng ở Italy này đã giảm 2/3.

Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO đã bày tỏ “lo ngại lớn” về ảnh hưởng của sự bùng nổ du lịch đối với các khu vực di sản của Venice. Trong khi đó, người dân địa phương phản đối tình trạng gây ô nhiễm của những con tàu du lịch lớn và chi phí sinh hoạt ngày càng đắt đỏ.

Venice hiện đã có những biện pháp để giải quyết vấn đề. Thành phố đã tăng cường số cảnh sát du lịch tại các điểm thu hút nhiều du khách nhất, cấm việc mở thêm những cửa hiệu bán đồ ăn uống cho khách mang đi (takeaway), và hạn chế số phòng khách sạn mới.

Thành phố cũng mở một chiến dịch thông tin hướng dẫn du khách có cách hành xử đúng đắn. Chiến dịch này được thực hiện bằng ít nhất 11 ngôn ngữ khác nhau.

Du khách đến Venice được đề nghị không xả rác bừa bãi, để lại những “chiếc khóa tình yêu”, mặc đồ bơi trong thị trấn, hay đi dã ngoại tại những kiệt tác kiến trúc của thành phố.

Barcelona

Năm ngoái, thành phố Barcelona của Tây Ban Nha đón hơn 8 triệu du khách.

Mấy tuần gần đây, người dân Barcelona đã đổ ra đường để biểu tình phản đối, cho rằng lượng du khách như vậy là quá lớn. Ở khu vực Barceloneta, người biểu tình giơ những biểu ngữ nhắc nhở du khách rằng khu vực này là nhà của người địa phương.

Hội đồng thành phố Barcelona đã thông qua những quy định mới nhằm hạn chế xây dựng khách sạn ở khu vực trung tâm, đồng thời hạn chế việc người dân cho du khách thuê nhà. Chính quyền cũng đã quyết định dùng khoản thu từ một loại thuế đánh vào du khách cho các dịch vụ phục vụ người dân, thay vì chi cho hoạt động quảng bá du lịch.

Số du khách tới Tây Ban Nha mỗi năm đã tăng thêm 20 triệu người trong vòng 5 năm qua, lên con số 77 triệu – theo Euromonitor International. Năm ngoái, ngành du lịch đóng góp hơn 14% tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, giới chức Tây Ban Nha lo ngại rằng vụ tấn công khủng bố mới đây ở Barcelona có thể khiến lượng du khách tới nước này suy giảm.

Dubrovnik

Thống kê cho thấy lượng du khách tới thăm thành phố Dubrovnik của Croatia tăng 10% trong năm ngoái. Xu hướng này một phần do thành phố là nơi quay nhiều cảnh trong bộ phim Trò chơi vương quyền (Game of Thrones).

Tuy nhiên, Dubrovnik đang cảm thấy mệt mỏi vì lượng du khách tăng mạnh. Gần đây, 7 con tàu du lịch với sức chứa 9.300 du khách đã tới Dubrovnik chỉ trong một ngày, khiến chính quyền thành phố phải ra cảnh báo tắc đường. Vào thời điểm đó, đã có sẵn 25.000 du khách đang ở trong thành phố.

Nhà chức trách địa phương đang tìm cách cắt giảm số tàu du lịch. Ngoài ra, thành phố cũng đã lắp đặt một mạng lưới camera an ninh nhằm kiểm soát dòng khách du lịch.

Prague

Prague là một trong những thành phố đón nhiều du khách nhất ở châu Âu. Theo số liệu của Mastercard, trong năm ngoái, có 5,8 triệu lượt du khách thăm thành phố này.

Văn hóa bia của Prague khiến thành phố trở thành một điểm đến hấp dẫn cho những bữa tiệc chia tay thời độc thân hay cuộc nhậu túy lúy ở quán rượu. Nhiều buổi tiệc như vậy khu du khác đã khiến người dân Prague cảm thấy cuộc sống của họ bị ảnh hưởng.

Biểu tình chưa xảy ra, nhưng vào tháng 5, nhà chức trách thành phố đã thuê một đội “chống xung đột” đặc biệt để tuần tra những khu vực đông đúc nhất vào ban đêm. Trong các cuộc tuần tra, nhân viên an ninh đề nghị du khách tôn trọng “thời gian giữ yên tĩnh vào ban đêm” của thành phố bắt đầu từ 10h tối trở đi.

Theo Bình Minh

VnEconomy

Cơn sóng ngầm trong lòng quốc gia giàu nhất Châu Âu

Thủ tướng Đức Angela Merkel đã từng nói với cử tri rằng họ đang sống trong một xã hội Đức tốt nhất từ trước tới nay, nhưng nhiều người dân nghèo tại đây lại không nghĩ như vậy.

“Tôi sinh tồn được nhưng chẳng thế có cuộc sống mong muốn. Tôi không có đủ đến 10 Euro để đến rạp phim cũng như các rạp chiếu ballet. Điều khiến tôi day dứt nhất là tôi chẳng đủ tiền mua quà cho các cháu của mình”, bà Doris, một nữ y tá nghỉ hưu 71 tuổi tại Đức cho hay.

Câu chuyện của bà Doris không hề cá biệt và điều này có lẽ gây ngạc nhiên cho nhiều người, nhất là khi Đức được coi là nền kinh tế phát triển nhất Châu Âu. Thu nhập bình quân đầu người của Đức cao nhất khu vực này, vượt qua những nước như Anh, Pháp hay Italy. Tỷ lệ thất nghiệp cũng thuộc hàng thấp nhất Liên minh Châu Âu (EU), thậm chí thiếu lao động đang khiến các doanh nghiệp Đức phải đau đầu.

Dẫu vậy, chênh lệch giàu nghèo tại Đức lại đang ngày một tăng. Khảo sát của hãng truyền thông ARD cho thấy cử tri Đức xếp vấn đề bất bình đẳng xã hội đứng thứ 2 sau tình trạng người nhập cư, trong khi vấn đề thất nghiệp chỉ đứng thứ 5 về tầm quan trọng.

Tồi tệ hơn, tỷ lệ trẻ em sống dựa vào trợ cấp xã hội của nền kinh tế số 1 Châu Âu này cũng đã tăng mạnh từ 1/75 trẻ năm 1965 lên 1/6 trẻ năm 2007. Năm 2015, tỷ lệ số người nghèo tại Đức lên mức cao nhất kể từ khi thống nhất 2 miền vào năm 1990 với 12,5 triệu người sống trong cảnh nghèo khổ.

Điều trớ trêu là kinh tế Đức cũng tăng trưởng khá trong khoảng thời gian này. Số liệu tháng 2/2017 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của Đức đứng ở 5,9%, mức thấp kỷ lục kể từ năm 1990. Trong khi đó, các nghiên cứu cho thấy 1/3 số người nước ngoài tại đây sống trong cảnh nghèo và 1/4 số gia đình có 3 con trở lên cũng gặp khó khăn ở Đức.

Ngoài ra, số lao động trên 65 tuổi tại Đức cũng đã tăng gấp đôi từ 5% lên 11% trong vòng 10 năm qua do chất lượng sống của những người gia tại đây không như ý cũng như việc thiếu lao động trên thị trường.

Mặt tối của nền kinh tế phát triển

Những thị trấn như Gelsenkirchen, nơi bà Doris sinh sống nằm lọt thỏm giữa các thành phố lớn như Hamburg, Frankfurt hay Munich. Mặc dù chính phủ đã đầu tư xây dựng nhiều trung tâm thương mại , những rạp hát hay các sân vận động tại đây nhưng chúng vẫn không thay đổi được thực trạng của tầng lớp dân nghèo.

Mặc dù hệ thống an sinh xã hội của Đức vô cùng tốt đến mức hiếm thấy có người nghèo đói ăn xin trên đường phố nhưng nếu không xin được việc làm, những người nghèo này khó có thể có một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa.

Trên thực tế, thị trấn Gelsenkirchen đã từng có tiềm năng phát triển nhờ ngành than, nhưng sự suy giảm nhu cầu của loại nguyên liệu này đã khiến Gelsenkirchen trở thành 1 trong những thị trấn nghèo nhất Đức hiện nay. Tỷ lệ thất nghiệp năm 2016 của Gelsenkirchen đạt 14,7%, cao nhất trong số các thị trấn lớn và cao gần gấp 3 lần mức bình quân 5,5% trên toàn quốc.

Đi kèm với đó là thu nhập bình quân hộ gia đình của Gelsenkirchen cũng thấp nhất nước đức, tiêu chuẩn về y tế và dinh dưỡng cho trẻ nhỏ cũng bị suy giảm.

Mặc dù nền kinh tế Đức đã có những dấu hiệu hồi phục rõ ràng nhưng chúng lại không đồng đều. Số liệu của Eurostat cho thấy Đức đang trở nên bất bình đẳng nhất kể từ năm 1990 khi 2 miền Đông Đức- Tây Đức thống nhất.

Xét theo thu nhập hộ gia đình, số liệu của người dân Đức khá tương đương với mức bình quân ở Châu Âu. Dẫu vậy, nếu phân loại chi tiết thì những người giàu vẫn nắm giữ nhiều tải sản hơn trong xã hội với tỷ lệ cao hơn các nước Châu Âu khác. Khoảng 40% những người có thu nhập dưới đáy xã hội không có tài sản gì, thậm chí là không có cả tài khoản ngân hàng.

Bạn có biết tại EU:

– Khoảng 25%, tương đương 119 triệu người đang phải sống trong cảnh nghèo khổ

– Top 20% người giàu nhất có thu nhập cao gấp 5 lần so với top 20% người nghèo nhất.

– Gần 27% số trẻ em trong độ tuổi dưới 17, tương đương 25 triệu người đang phải sống trong cảnh nghèo khổ.

– Hơn 1/3 số người dân không có đủ tài chính để dự phòng những trường hợp bất khả kháng xảy ra.

– Gần 50% số cha mẹ đơn thân tại đây phải sống trong cảnh nghèo khổ.

– Khoảng 4,6% tống dân số, tương đương hơn 29,7 triệu người tại đây không được tiếp xúc tự do với máy tính và công nghệ hiện đại.

Nguồn: Euronews

Tội đồ toàn cầu hóa và công nghệ

Sự phân hóa giàu nghèo giữa 10% người nghèo nhất với 10% tầng lớp thượng lưu tại Đức đã bắt đầu nới rộng từ giữa thập niên 1990 bởi xu thế toàn cầu hóa và công nghệ cướp mất việc làm kỹ thuật thấp.

Sau giai đoạn trồi sụt khi mới sáp nhập, kinh tế Đức bắt đầu tăng trưởng nhanh nhờ xuất khẩu, việc làm được tạo ra ngày càng nhiều. Tuy nhiên, dù tỷ lệ thất nghiệp giảm nhưng những người dân dưới đáy xã hội, như những người già, nghỉ hưu, tàn tật, không có khả năng lao động… lại càng cảm thấy khó khăn hơn để kiếm sống.

Các nghiên cứu cho thấy dù nhiều lao động tìm thấy việc làm nhưng một bộ phận rất lớn các công việc là có lương thấp (mini job) hoặc việc làm bán thời gian. Số lao động làm những công việc lương thấp này đã tăng từ 4,1 triệu người năm 2002 lên 7,5 triệu người từ đầu năm đến nay ở Đức. Phần lớn những lao động này là các bà mẹ có con nhỏ, người già hay sinh viên.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia chỉ trích những công việc lương thấp này đang trở thành bước đường cùng của các lao động kỹ thuật thấp hiện nay ở Đức. Trong khi chủ doanh nghiệp hài lòng với việc trả mức lương bèo, chính phủ vui vẻ vì tỷ lệ thất nghiệp thấp thì những người lao động nghèo phải bám víu vào công việc thu nhập thấp.

Bên cạnh đó, chỉ có khoảng 45% số người Đức là có sở hữu nhà ở hiện nay, số còn lại hầu hết đi thuê do giá nhà quá cao. Nguyên nhân chính là tình trạng đầu cơ tăng trở lại sau cuộc khủng hoảng 2008, khiến hàng loạt các bất động sản không người ở nhưng vẫn có giá cao ngất ngưởng.

Một nguyên nhân nữa khiến nhiều người già và nghỉ hưu phải sống trong cảnh nghèo khó là hệ thống lương hưu quá cứng nhắc. Thay vì chấp nhận những người cao tuổi nghỉ hưu sớm để thu nhận một khoản hưu trí cao và đầu tư kinh doanh thì lại buộc lao động phải làm việc đến tuổi nghỉ hưu. Điều này đã giới hạn khả năng của lao động Đức cũng như buộc người nghỉ hưu nước này phải phụ thuộc vào ngân sách khi mất sức lao động.

Thêm vào đó, chế độ đãi ngộ thuế tại Đức hướng tới những gia đình kinh doanh tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội, nhất là khi các thế hệ sau đảm bảo họ tiếp tục tạo việc làm như vậy. Hệ quả là các doanh nhân này thường có xu hướng tái đầu tư vào sản xuất hoặc giữ tiền trong ngân hàng hơn là đem đi đầu tư các mảng kinh doanh mới hoặc tiêu dùng đầy rủi ro, qua đó tác động xấu đến thị trường tiêu dùng nội địa.

Chính sự bất bình đẳng trong thu nhập đã dẫn đến những hệ lụy khá xấu trong xã hội Đức. Mặc dù mức điểm của học sinh Đức khá cao trong chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) so với nhiều thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) khác nhưng sự phân hóa trong học sinh giàu và nghèo lại khá rõ rệt.

Năm 2015, báo cáo của OECD cho thấy những yếu tố về hoàn cảnh tác động đến 16% kết quả học tập của các sinh viên Đức, cao hơn so với mức bình quân 13% của toàn khối.

Thậm chí cả về chất lượng y tế, người giàu và nghèo cũng có những đãi ngộ khác nhau dựa trên thu nhập, địa vị xã hội.

Đặc biệt hơn, những nghiên cứu chỉ ra rằng kể từ khi sáp nhập và thống nhất vào năm 1990, miền Đông Đức hiện nay vẫn có thu nhập chỉ bằng 2/3 so với Tây Đức. Dân số của miền Đông cũng già đi nhanh chóng bởi dù lớp trẻ tại đây không bỏ đi nơi khác kiếm việc nhưng tỷ lệ sinh thấp trong khi người nhập cư lại chuộng Tây Đức hơn.

Với tỷ lệ người hơn 65 tuổi chiếm tới 24% tổng dân số, miền Đông Đức nếu được coi là một quốc gia thì đây sẽ là nước có dân số già nhất thế giới.

Theo BT

Thời Đại

Vì sao người châu Âu làm ít, chơi nhiều vẫn thành công?

Trên thực tế tư tưởng nghỉ dưỡng của người châu Âu lại giúp thúc đẩy năng suất lao động hiệu quả.

Người châu Âu nổi tiếng luôn tự thưởng cho mình những kỳ nghỉ dài trong suốt mùa hè.

Ở Na Uy, thuật ngữ “fellesferie” dùng để chỉ những kỳ nghỉ tập thể kéo dài tới 2 hoặc 3 tuần của người lao động diễn ra vào tháng 7 hàng năm. Thời gian này các doanh nghiệp sẽ đóng cửa hàng hoặc chỉ hoạt động theo giờ mùa hè.

Tại Hà Lan, người lao động trong ngành xây dựng thường có kỳ nghỉ gọi là “bouwvak” kéo dài trong nhiều tuần.

Còn ở Pháp cho đến thời điểm 2 năm trước, một đạo luật được ban hành yêu cầu những người làm bánh tại đây phải xen kẽ thời gian nghỉ hè của họ để làm sao vẫn đảm bảo có đủ các hiệu bánh mở cửa phục vụ khách hàng trong suốt kỳ nghỉ.

Đây là là những mô hình đáng khao khát đối với đa phần người dân Mỹ – quốc gia duy nhất trong nhóm OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) không ban hành quy định về những kỳ nghỉ có trả lương dành cho người lao động. Tồi tệ hơn nghiên cứu cho thấy, rất nhiều người Mỹ dù được hưởng ngày nghỉ có trả lương nhưng vẫn lo sợ khi nhận đặc quyền này bởi áp lực nơi làm việc.

Tuy nhiên, trên thực tế tư tưởng nghỉ dưỡng của người châu Âu lại giúp thúc đẩy năng suất lao động hiệu quả.

Ban chỉ đạo thời gian làm việc của Liên minh châu Âu đảm bảo rằng người lao động ở khu vực này được hưởng ít nhất 20 ngày nghỉ có trả lương mỗi năm, so với đó, ở Mỹ thậm chí không có định chế về mức nghỉ hàng năm tối thiểu.

Một vài quốc gia châu Âu có quy định về thời gian nghỉ phép có trả lương như: Anh, Pháp, Áo, Đan Mạch, Phần Lan, Luxembourg và Thụy Điển. Tất cả các nước này thường yêu cầu có từ 25 hoặc hơn số ngày nghỉ có trả lương hàng năm.

Dữ liệu cho thấy thời gian nghỉ càng nhiều không hề khiến cho ra năng suất lao động thấp hơn. 9 trong 10 nước có năng suất lao động tốt nhất trong nhóm OECD năm 2015 nằm ở châu Âu (chỉ số tính theo GDP mỗi giờ làm việc). Nước Mỹ chỉ xếp thứ 6.

Katie Denis là Phó chủ tịch và nghiên cứu trưởng tại Time Off – dự án được gây quỹ bởi Hiệp hội du lịch Mỹ nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian nghỉ ngơi tại nơi làm việc trong nhiều năm. Bà cho rằng: “Ý tưởng cho rằng chúng ta đang hy sinh vô ích thời gian nghỉ ngơi là sai lầm”.

Trong báo cáo năm 2016 của dự án có chỉ rõ, người lao động có 11 hoặc hơn số ngày nghỉ thường nhận được sự tăng lương hoặc thưởng trong 3 năm trước đó nhiều hơn so với những người chỉ có 10 hoặc ít hơn số ngày nghỉ.

Thời gian nghỉ ngơi ngoài giờ làm việc có thể giúp bạn sáng tạo hơn. Những ý tưởng về kinh doanh như trang mạng xã hội Instagram hoặc vở nhạc kịch Hamilton đều được sáng tạo ra trong những kỳ nghỉ.

“Năng suất lao động, sự sáng tạo, những ý tưởng mới mẻ không tới từ những người làm việc điên cuồng. Thực tế nó sẽ tới từ những người tránh xa công việc hàng ngày của họ”.

Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra những lợi ích to lớn về mặt sức khỏe từ việc nghỉ ngơi, như giảm stress, sức khỏe tinh thần tốt hơn và thậm chí ít ít bị đau tim hơn.

“Nghỉ ngơi rất quan trọng bởi nó không chỉ giúp trí não hoạt động tốt hơn mà còn làm giảm ảnh hưởng vật lý lên cơ thể”, theo Kathleen Potempa – Giáo sư tại Đại học Michigan School nói.

Áp lực công việc quá tải là rào cản khiến nhiều người không dám tận hưởng những kỳ nghỉ dài. Nghiên cứu Time Off thực hiện trên hơn 7.000 người Mỹ nhận thấy 43% người lao động không dám nghỉ ngơi bởi họ sợ khi quay lại 1 đống công việc sẽ chờ đón. Chi phí cũng là một rào cản lớn với 32% nói rằng họ không đủ tiềm lực tài chính để thực hiện những kỳ nghỉ.

Tuy nhiên các chuyên gia nói rằng những kỳ nghỉ ngắn và thường xuyên, tránh xa văn phòng làm việc có thể mang lại ảnh hưởng to lớn tới năng suất lao động. Nhiều nghiên cứu cho rằng nên có 2 kỳ nghỉ mỗi năm để cải thiện những lợi ích về sức khoẻ.

Potempa cũng nói thêm rằng một điều quan trọng nữa là nhân viên phải loại bỏ hoàn toàn công việc khi họ đi nghỉ ngơi. Một nghiên cứu mới đây cho thấy 1/3 người Mỹ vẫn làm việc và kiểm tra email trong khi đi nghỉ.

“Điều quan trọng là biến việc đó trở nên thường xuyên khiến bạn không thể bỏ qua. Rõ ràng, nhiều ảnh hưởng tiêu cực sẽ xuất hiện với những người không đi nghỉ mát trong nhiều năm”.

Theo Phương Linh

Trí thức trẻ

Đằng sau những cuộc “xâm lăng kinh tế” của Trung Quốc vào châu Âu

Các nhà đầu tư Trung Quốc đang tiếp tục công cuộc “xâm chiếm” thị trường châu Âu, gia tăng ảnh hưởng tài chính và chính trị của nước này tại khu vực. Theo các chuyên gia kinh tế, đằng sau cuộc “xâm lăng kinh tế” này còn có nhiều ý đồ khác…

Nạn ăn cắp công nghệ, gián điệp kinh tế

Năm ngoái, châu Âu đã đánh bại thị trường Mỹ và trở thành điểm đến đầu tư lớn nhất ở nước ngoài của các doanh nghiệp Trung Quốc. Ông Dmitry Tratas, một chuyên gia tài chính và phân tích thị trường chứng khoán, đã chỉ ra một trong những lý do chính dẫn tới sự thay đổi trên là do chính sách kinh tế của Washington đối với Bắc Kinh.

Theo ông, Chính phủ Mỹ, đặc biệt là chính quyền Tổng thống Donald Trump và các chế định pháp lý của nước này đang gây ra ngày càng nhiều trở ngại đối với các nhà đầu tư của Trung Quốc vào thị trường Mỹ.

“Mối quan hệ thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc từ lâu vốn đã rất căng thẳng. Họ tuy là đối tác, nhưng trên thực tế Washington từng nhiều lần cáo buộc Bắc Kinh cạnh tranh không lành mạnh, hay áp dụng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch”, chuyên gia nói.

Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa qua đã ký văn bản yêu cầu điều tra các hoạt động ăn cắp công nghệ, gián điệp kinh doanh của Trung Quốc.

Trung Quốc vốn được nhiều nước xem là cái nôi của hàng nhái. Bởi dường như không có bất kỳ sản phẩm nào họ không làm lại được, từ đồ ăn nhanh, quần áo, đồ chơi tới máy bay, tên lửa.

Năm 2013, một nhóm cựu quan chức cấp cao Mỹ đã tiến hành một cuộc điều tra về vấn nạn ăn cắp bản quyền và vi phạm sở hữu trí tuệ. Theo đó, 50-80% các vụ vi phạm tại Mỹ có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, gián điệp kinh tế Trung Quốc nhằm vào Mỹ cũng tăng mạnh trong nhiều năm qua, đại đa số thủ phạm có quan hệ với Chính phủ nước này. Những công ty là nạn nhân lớn nhất phải kể tới tập đoàn quân sự Lockheed Martin, công ty hóa chất Dupont hay công ty sơn Valspar.

Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) đã nhiều lần vào cuộc điều tra vấn nạn này. Kết quả cho thấy, Trung Quốc là thủ phạm của 95% số vụ gián điệp kinh tế ở Mỹ.

Thủ đoạn của gián điệp kinh tế thường là dụ dỗ nhân viên các công ty Mỹ lấy dữ liệu quan trọng từ mạng máy tính. Bên cạnh đó, họ còn sử dụng thủ thuật xâm nhập máy tính, để chiếm đoạt tài sản trí tuệ, hay bí mật thương mại.

Năm 2014, FBI từng phát hành đoạn video trên YouTube để cảnh báo những thủ đoạn cài cắm gián điệp của Trung Quốc đối với các công ty Mỹ.

Thậm chí, Trung Quốc còn tuyển mộ các du học sinh Mỹ ở Trung Quốc làm gián điệp hoạt động thường xuyên ở Mỹ. Những du học sinh này thi vào các cơ quan ngoại giao, kinh tế, công nghiệp quốc phòng… của Mỹ với ý đồ làm gián điệp nằm vùng.

Những hoạt động như trên gây thiệt hại cho Mỹ tới vài trăm tỷ USD mỗi năm.

Mục đích sau việc đổ “hàng tấn” tiền vào châu Âu

Các công ty Trung Quốc hiện đang sở hữu “hàng tấn” tiền để đầu tư ra nước ngoài. Theo chuyên gia tài chính Tratas, kế hoạch ngầm của Bắc Kinh là “mở rộng tới tất cả các thị trường nơi có các công ty và tài sản có thể mua lại được”.

Bình luận sâu hơn về sự tập trung đầu tư của các tập đoàn, doanh nghiệp Trung Quốc vào châu Âu, ông Tratas giải thích, nền kinh tế tại các quốc gia phương Tây có xu hướng tự do và cởi mở hơn trong chính sách đầu tư nước ngoài so với Mỹ.

“Theo tôi, kiểm soát đầu tư nước ngoài ở châu Âu không khắt khe như những gì Chính phủ Mỹ đang thực hiện. Tuy nhiên, các công ty Trung Quốc không phải không cảm thấy áp lực với thị trường châu Âu. Nhưng sự áp lực này chỉ nằm trong cách tiếp cận của hàng hóa Trung Quốc với thị trường châu Âu, chứ không phải điều kiện đối với các hợp đồng mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A)”, ông Tratas nhấn mạnh.

Trong khi đó, theo chuyên gia Zhang Ning từ trung tâm Kinh tế và Tài chính, viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, một phần Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài là bởi sự mất giá của đồng Nhân dân tệ trong vài năm trở lại đây.

“Kể từ ngày 11/8/2015, tỷ giá đồng Nhân dân tệ bắt đầu tụt giảm, kết quả là nhiều doanh nghiệp Trung Quốc quyết định tập trung vào các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài. Hơn nữa, hoạt động đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng ở nội địa Trung Quốc đã bị hạn chế nên nhiều công ty tìm cách sở hữu các tài sản nước ngoài. Đây cũng là một phần trong những nỗ lực của giới kinh doanh Trung Quốc trong việc toàn cầu hóa sự phát triển cũng như nâng tầm tài sản của họ lên đẳng cấp quốc tế”, ông Zhang nói.

Theo một nghiên cứu bởi viện Nghiên cứu Trung Quốc Mercator (MERICS), đầu tư trực tiếp nước ngoài của Bắc Kinh vào châu Âu năm 2016 đạt 36 tỷ Euro, tăng 77% so với năm 2015.

Quốc gia điểm đến lớn nhất của nguồn tiền khổng lồ từ Trung Quốc chính là Vương quốc Anh, Đức, Pháp, chiếm 59% tổng số vốn đầu tư năm ngoái vào châu Âu.

Những ngành công nghiệp mà Bắc Kinh đầu tư ở châu lục này tập trung vào giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng, máy móc công nghiệp, năng lượng và hàng tiêu dùng.

Năm 2016, những ngành nêu trên chứng kiến mức tăng trưởng đạt 100 đến 150% trong đầu tư của Trung Quốc so với giai đoạn năm 2013-2015.

Đối với ba “ông lớn” của kinh tế châu Âu, Trung Quốc không chỉ muốn đầu tư vào các nền kinh tế phát triển mà còn muốn nhằm vào những quốc gia có vai trò đầu tàu chính trị. Trung Quốc tập trung vào thị trường Bắc Âu, khu vực kinh tế ổn định và có ảnh hưởng quyết định chính trị tới toàn châu Âu.

Tuy nhiên, họ cũng không lơ là Nam Âu, dù vùng này luôn tồn tại nhiều rủi ro kinh tế. Tại đây, Bắc Kinh muốn tăng cường vị thế chính trị của mình.

Theo ông Vladislav Belov, chuyên gia về Đức kiêm Giám đốc viện Nghiên cứu châu Âu tại đại học Khoa học Nga, việc Trung Quốc “bùng nổ” đầu tư vào thị trường châu Âu năm 2016 không phải vô tình.

“Đó là kế hoạch lâu dài mà Trung Quốc đã theo đuổi và năm qua chúng ta chứng kiến sự đỉnh điểm các hoạt động đầu tư của nước này. Năm ngoái là bước thực hiện mà doanh nghiệp Trung Quốc đã chuẩn bị trước đó. Đó chính là lý do vì sao các chuyên gia nhận định rằng năm nay hoạt động này có thể sẽ giảm bớt”, Belov nói.

D.T