Du khách có thể sẽ không còn được cấp visa Schengen

Ủy ban châu Âu (EC) đang đề xuất bổ sung quy định mới cho Hiệp ước Schengen, nhằm tái thiết lập việc kiểm soát biên giới giữa 26 nước thành viên trong khối.

Do lo ngại tình hình an ninh khu vực, Ủy ban châu Âu (EC) đang đề xuất bổ sung quy định mới cho Schengen, hiệp ước thỏa thuận tự do đi lại giữa 26 quốc gia châu Âu. Trong đó, thành viên khối Schengen sẽ quay lại thực hiện các biện pháp kiểm soát biên giới tạm thời trong thời hạn 3 năm.

Ông Frans Timmermans, Phó chủ tịch EC, cho biết: “Những quy định về việc tái thiết lập kiểm soát biên giới trong khối của Luật Biên giới Schengen được đưa ra trong một thời đại khác, với những thách thức khác. Trường hợp đặc biệt như hiện tại, khi các mối đe dọa khủng bố gia tăng, khiến chúng tôi soạn thảo một Luật Biên giới Schengen mới phù hợp với tình hình thực tế”.

Hiệp ước Schengen chính thức được ký kết ngày 27/11/1990, quy định quyền tự do đi lại của công dân các nước thành viên. Khối Schengen gồm 26 quốc gia: Áo, Bỉ, Cộng hòa Czech, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Iceland, Italy, Latvia, Liechtenstein, Lithuania, Luxembourg, Malta, Hà Lan, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Thụy Sĩ.

Theo liên minh châu Âu (EU), hơn 400 triệu người, gồm công dân thuộc EU, khách du lịch và người nước ngoài đang tự do đi lại qua biên giới các nước trong khối Schengen.

Tuy nhiên, đề xuất này cần được Hội đồng châu Âu và Nghị viện châu Âu (EP) thông qua.

 

Những thành phố châu Âu “khốn khổ” vì quá nhiều du khách

Được quá nhiều khách du lịch ghé thăm đang trở thành một điều phiền toái đối với không ít thành phố ở châu Âu…

Theo hãng tin CNN, người dân ở những thành phố hút du kháchnhất châu Âu phàn nàn rằng thành phố của họ đang bị phá hủy bởi sự ồn ào, môi trường ô nhiễm, và giá cả tăng cao do du khách gây ra.

Dù không thể phủ nhận ngành du lịch đã mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế địa phương, sự phản đối của người dân địa phương đối với lượng du khách khổng lồ đã được thể hiện rõ trong mùa hè năm nay ở một loạt thành phố như Barcelona, Venice, Dubrovnik, và Prague. Lượng du khách đến các thành phố này tăng vọt nhờ giá vé máy bay rẻ và những dịch vụ lữ hành mới như Airbnb.

“Một số thành phố châu Âu đang chịu sức ép của lượng du khách quá lớn”, các nhà phân tích thuộc Euromonitor International viết trong một báo cáo mới đây. “Rõ ràng là cần phải có chiến lược để ứng phó với nhu cầu du lịch lớn”.

Dưới đây là cách một số thành phố châu Âu đang áp dụng để ứng phó với lượng du khách lớn:

Venice

Các nhà phân tích nói rằng lượng du khách tăng và giá cả bị đẩy lên đã khiến dân số của Venice suy giảm mạnh. Trong vòng 50 năm qua, dân số của thành phố nổi tiếng ở Italy này đã giảm 2/3.

Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO đã bày tỏ “lo ngại lớn” về ảnh hưởng của sự bùng nổ du lịch đối với các khu vực di sản của Venice. Trong khi đó, người dân địa phương phản đối tình trạng gây ô nhiễm của những con tàu du lịch lớn và chi phí sinh hoạt ngày càng đắt đỏ.

Venice hiện đã có những biện pháp để giải quyết vấn đề. Thành phố đã tăng cường số cảnh sát du lịch tại các điểm thu hút nhiều du khách nhất, cấm việc mở thêm những cửa hiệu bán đồ ăn uống cho khách mang đi (takeaway), và hạn chế số phòng khách sạn mới.

Thành phố cũng mở một chiến dịch thông tin hướng dẫn du khách có cách hành xử đúng đắn. Chiến dịch này được thực hiện bằng ít nhất 11 ngôn ngữ khác nhau.

Du khách đến Venice được đề nghị không xả rác bừa bãi, để lại những “chiếc khóa tình yêu”, mặc đồ bơi trong thị trấn, hay đi dã ngoại tại những kiệt tác kiến trúc của thành phố.

Barcelona

Năm ngoái, thành phố Barcelona của Tây Ban Nha đón hơn 8 triệu du khách.

Mấy tuần gần đây, người dân Barcelona đã đổ ra đường để biểu tình phản đối, cho rằng lượng du khách như vậy là quá lớn. Ở khu vực Barceloneta, người biểu tình giơ những biểu ngữ nhắc nhở du khách rằng khu vực này là nhà của người địa phương.

Hội đồng thành phố Barcelona đã thông qua những quy định mới nhằm hạn chế xây dựng khách sạn ở khu vực trung tâm, đồng thời hạn chế việc người dân cho du khách thuê nhà. Chính quyền cũng đã quyết định dùng khoản thu từ một loại thuế đánh vào du khách cho các dịch vụ phục vụ người dân, thay vì chi cho hoạt động quảng bá du lịch.

Số du khách tới Tây Ban Nha mỗi năm đã tăng thêm 20 triệu người trong vòng 5 năm qua, lên con số 77 triệu – theo Euromonitor International. Năm ngoái, ngành du lịch đóng góp hơn 14% tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, giới chức Tây Ban Nha lo ngại rằng vụ tấn công khủng bố mới đây ở Barcelona có thể khiến lượng du khách tới nước này suy giảm.

Dubrovnik

Thống kê cho thấy lượng du khách tới thăm thành phố Dubrovnik của Croatia tăng 10% trong năm ngoái. Xu hướng này một phần do thành phố là nơi quay nhiều cảnh trong bộ phim Trò chơi vương quyền (Game of Thrones).

Tuy nhiên, Dubrovnik đang cảm thấy mệt mỏi vì lượng du khách tăng mạnh. Gần đây, 7 con tàu du lịch với sức chứa 9.300 du khách đã tới Dubrovnik chỉ trong một ngày, khiến chính quyền thành phố phải ra cảnh báo tắc đường. Vào thời điểm đó, đã có sẵn 25.000 du khách đang ở trong thành phố.

Nhà chức trách địa phương đang tìm cách cắt giảm số tàu du lịch. Ngoài ra, thành phố cũng đã lắp đặt một mạng lưới camera an ninh nhằm kiểm soát dòng khách du lịch.

Prague

Prague là một trong những thành phố đón nhiều du khách nhất ở châu Âu. Theo số liệu của Mastercard, trong năm ngoái, có 5,8 triệu lượt du khách thăm thành phố này.

Văn hóa bia của Prague khiến thành phố trở thành một điểm đến hấp dẫn cho những bữa tiệc chia tay thời độc thân hay cuộc nhậu túy lúy ở quán rượu. Nhiều buổi tiệc như vậy khu du khác đã khiến người dân Prague cảm thấy cuộc sống của họ bị ảnh hưởng.

Biểu tình chưa xảy ra, nhưng vào tháng 5, nhà chức trách thành phố đã thuê một đội “chống xung đột” đặc biệt để tuần tra những khu vực đông đúc nhất vào ban đêm. Trong các cuộc tuần tra, nhân viên an ninh đề nghị du khách tôn trọng “thời gian giữ yên tĩnh vào ban đêm” của thành phố bắt đầu từ 10h tối trở đi.

Theo Bình Minh

VnEconomy

Cơn sóng ngầm trong lòng quốc gia giàu nhất Châu Âu

Thủ tướng Đức Angela Merkel đã từng nói với cử tri rằng họ đang sống trong một xã hội Đức tốt nhất từ trước tới nay, nhưng nhiều người dân nghèo tại đây lại không nghĩ như vậy.

“Tôi sinh tồn được nhưng chẳng thế có cuộc sống mong muốn. Tôi không có đủ đến 10 Euro để đến rạp phim cũng như các rạp chiếu ballet. Điều khiến tôi day dứt nhất là tôi chẳng đủ tiền mua quà cho các cháu của mình”, bà Doris, một nữ y tá nghỉ hưu 71 tuổi tại Đức cho hay.

Câu chuyện của bà Doris không hề cá biệt và điều này có lẽ gây ngạc nhiên cho nhiều người, nhất là khi Đức được coi là nền kinh tế phát triển nhất Châu Âu. Thu nhập bình quân đầu người của Đức cao nhất khu vực này, vượt qua những nước như Anh, Pháp hay Italy. Tỷ lệ thất nghiệp cũng thuộc hàng thấp nhất Liên minh Châu Âu (EU), thậm chí thiếu lao động đang khiến các doanh nghiệp Đức phải đau đầu.

Dẫu vậy, chênh lệch giàu nghèo tại Đức lại đang ngày một tăng. Khảo sát của hãng truyền thông ARD cho thấy cử tri Đức xếp vấn đề bất bình đẳng xã hội đứng thứ 2 sau tình trạng người nhập cư, trong khi vấn đề thất nghiệp chỉ đứng thứ 5 về tầm quan trọng.

Tồi tệ hơn, tỷ lệ trẻ em sống dựa vào trợ cấp xã hội của nền kinh tế số 1 Châu Âu này cũng đã tăng mạnh từ 1/75 trẻ năm 1965 lên 1/6 trẻ năm 2007. Năm 2015, tỷ lệ số người nghèo tại Đức lên mức cao nhất kể từ khi thống nhất 2 miền vào năm 1990 với 12,5 triệu người sống trong cảnh nghèo khổ.

Điều trớ trêu là kinh tế Đức cũng tăng trưởng khá trong khoảng thời gian này. Số liệu tháng 2/2017 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của Đức đứng ở 5,9%, mức thấp kỷ lục kể từ năm 1990. Trong khi đó, các nghiên cứu cho thấy 1/3 số người nước ngoài tại đây sống trong cảnh nghèo và 1/4 số gia đình có 3 con trở lên cũng gặp khó khăn ở Đức.

Ngoài ra, số lao động trên 65 tuổi tại Đức cũng đã tăng gấp đôi từ 5% lên 11% trong vòng 10 năm qua do chất lượng sống của những người gia tại đây không như ý cũng như việc thiếu lao động trên thị trường.

Mặt tối của nền kinh tế phát triển

Những thị trấn như Gelsenkirchen, nơi bà Doris sinh sống nằm lọt thỏm giữa các thành phố lớn như Hamburg, Frankfurt hay Munich. Mặc dù chính phủ đã đầu tư xây dựng nhiều trung tâm thương mại , những rạp hát hay các sân vận động tại đây nhưng chúng vẫn không thay đổi được thực trạng của tầng lớp dân nghèo.

Mặc dù hệ thống an sinh xã hội của Đức vô cùng tốt đến mức hiếm thấy có người nghèo đói ăn xin trên đường phố nhưng nếu không xin được việc làm, những người nghèo này khó có thể có một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa.

Trên thực tế, thị trấn Gelsenkirchen đã từng có tiềm năng phát triển nhờ ngành than, nhưng sự suy giảm nhu cầu của loại nguyên liệu này đã khiến Gelsenkirchen trở thành 1 trong những thị trấn nghèo nhất Đức hiện nay. Tỷ lệ thất nghiệp năm 2016 của Gelsenkirchen đạt 14,7%, cao nhất trong số các thị trấn lớn và cao gần gấp 3 lần mức bình quân 5,5% trên toàn quốc.

Đi kèm với đó là thu nhập bình quân hộ gia đình của Gelsenkirchen cũng thấp nhất nước đức, tiêu chuẩn về y tế và dinh dưỡng cho trẻ nhỏ cũng bị suy giảm.

Mặc dù nền kinh tế Đức đã có những dấu hiệu hồi phục rõ ràng nhưng chúng lại không đồng đều. Số liệu của Eurostat cho thấy Đức đang trở nên bất bình đẳng nhất kể từ năm 1990 khi 2 miền Đông Đức- Tây Đức thống nhất.

Xét theo thu nhập hộ gia đình, số liệu của người dân Đức khá tương đương với mức bình quân ở Châu Âu. Dẫu vậy, nếu phân loại chi tiết thì những người giàu vẫn nắm giữ nhiều tải sản hơn trong xã hội với tỷ lệ cao hơn các nước Châu Âu khác. Khoảng 40% những người có thu nhập dưới đáy xã hội không có tài sản gì, thậm chí là không có cả tài khoản ngân hàng.

Bạn có biết tại EU:

– Khoảng 25%, tương đương 119 triệu người đang phải sống trong cảnh nghèo khổ

– Top 20% người giàu nhất có thu nhập cao gấp 5 lần so với top 20% người nghèo nhất.

– Gần 27% số trẻ em trong độ tuổi dưới 17, tương đương 25 triệu người đang phải sống trong cảnh nghèo khổ.

– Hơn 1/3 số người dân không có đủ tài chính để dự phòng những trường hợp bất khả kháng xảy ra.

– Gần 50% số cha mẹ đơn thân tại đây phải sống trong cảnh nghèo khổ.

– Khoảng 4,6% tống dân số, tương đương hơn 29,7 triệu người tại đây không được tiếp xúc tự do với máy tính và công nghệ hiện đại.

Nguồn: Euronews

Tội đồ toàn cầu hóa và công nghệ

Sự phân hóa giàu nghèo giữa 10% người nghèo nhất với 10% tầng lớp thượng lưu tại Đức đã bắt đầu nới rộng từ giữa thập niên 1990 bởi xu thế toàn cầu hóa và công nghệ cướp mất việc làm kỹ thuật thấp.

Sau giai đoạn trồi sụt khi mới sáp nhập, kinh tế Đức bắt đầu tăng trưởng nhanh nhờ xuất khẩu, việc làm được tạo ra ngày càng nhiều. Tuy nhiên, dù tỷ lệ thất nghiệp giảm nhưng những người dân dưới đáy xã hội, như những người già, nghỉ hưu, tàn tật, không có khả năng lao động… lại càng cảm thấy khó khăn hơn để kiếm sống.

Các nghiên cứu cho thấy dù nhiều lao động tìm thấy việc làm nhưng một bộ phận rất lớn các công việc là có lương thấp (mini job) hoặc việc làm bán thời gian. Số lao động làm những công việc lương thấp này đã tăng từ 4,1 triệu người năm 2002 lên 7,5 triệu người từ đầu năm đến nay ở Đức. Phần lớn những lao động này là các bà mẹ có con nhỏ, người già hay sinh viên.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia chỉ trích những công việc lương thấp này đang trở thành bước đường cùng của các lao động kỹ thuật thấp hiện nay ở Đức. Trong khi chủ doanh nghiệp hài lòng với việc trả mức lương bèo, chính phủ vui vẻ vì tỷ lệ thất nghiệp thấp thì những người lao động nghèo phải bám víu vào công việc thu nhập thấp.

Bên cạnh đó, chỉ có khoảng 45% số người Đức là có sở hữu nhà ở hiện nay, số còn lại hầu hết đi thuê do giá nhà quá cao. Nguyên nhân chính là tình trạng đầu cơ tăng trở lại sau cuộc khủng hoảng 2008, khiến hàng loạt các bất động sản không người ở nhưng vẫn có giá cao ngất ngưởng.

Một nguyên nhân nữa khiến nhiều người già và nghỉ hưu phải sống trong cảnh nghèo khó là hệ thống lương hưu quá cứng nhắc. Thay vì chấp nhận những người cao tuổi nghỉ hưu sớm để thu nhận một khoản hưu trí cao và đầu tư kinh doanh thì lại buộc lao động phải làm việc đến tuổi nghỉ hưu. Điều này đã giới hạn khả năng của lao động Đức cũng như buộc người nghỉ hưu nước này phải phụ thuộc vào ngân sách khi mất sức lao động.

Thêm vào đó, chế độ đãi ngộ thuế tại Đức hướng tới những gia đình kinh doanh tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội, nhất là khi các thế hệ sau đảm bảo họ tiếp tục tạo việc làm như vậy. Hệ quả là các doanh nhân này thường có xu hướng tái đầu tư vào sản xuất hoặc giữ tiền trong ngân hàng hơn là đem đi đầu tư các mảng kinh doanh mới hoặc tiêu dùng đầy rủi ro, qua đó tác động xấu đến thị trường tiêu dùng nội địa.

Chính sự bất bình đẳng trong thu nhập đã dẫn đến những hệ lụy khá xấu trong xã hội Đức. Mặc dù mức điểm của học sinh Đức khá cao trong chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) so với nhiều thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) khác nhưng sự phân hóa trong học sinh giàu và nghèo lại khá rõ rệt.

Năm 2015, báo cáo của OECD cho thấy những yếu tố về hoàn cảnh tác động đến 16% kết quả học tập của các sinh viên Đức, cao hơn so với mức bình quân 13% của toàn khối.

Thậm chí cả về chất lượng y tế, người giàu và nghèo cũng có những đãi ngộ khác nhau dựa trên thu nhập, địa vị xã hội.

Đặc biệt hơn, những nghiên cứu chỉ ra rằng kể từ khi sáp nhập và thống nhất vào năm 1990, miền Đông Đức hiện nay vẫn có thu nhập chỉ bằng 2/3 so với Tây Đức. Dân số của miền Đông cũng già đi nhanh chóng bởi dù lớp trẻ tại đây không bỏ đi nơi khác kiếm việc nhưng tỷ lệ sinh thấp trong khi người nhập cư lại chuộng Tây Đức hơn.

Với tỷ lệ người hơn 65 tuổi chiếm tới 24% tổng dân số, miền Đông Đức nếu được coi là một quốc gia thì đây sẽ là nước có dân số già nhất thế giới.

Theo BT

Thời Đại

Vì sao người châu Âu làm ít, chơi nhiều vẫn thành công?

Trên thực tế tư tưởng nghỉ dưỡng của người châu Âu lại giúp thúc đẩy năng suất lao động hiệu quả.

Người châu Âu nổi tiếng luôn tự thưởng cho mình những kỳ nghỉ dài trong suốt mùa hè.

Ở Na Uy, thuật ngữ “fellesferie” dùng để chỉ những kỳ nghỉ tập thể kéo dài tới 2 hoặc 3 tuần của người lao động diễn ra vào tháng 7 hàng năm. Thời gian này các doanh nghiệp sẽ đóng cửa hàng hoặc chỉ hoạt động theo giờ mùa hè.

Tại Hà Lan, người lao động trong ngành xây dựng thường có kỳ nghỉ gọi là “bouwvak” kéo dài trong nhiều tuần.

Còn ở Pháp cho đến thời điểm 2 năm trước, một đạo luật được ban hành yêu cầu những người làm bánh tại đây phải xen kẽ thời gian nghỉ hè của họ để làm sao vẫn đảm bảo có đủ các hiệu bánh mở cửa phục vụ khách hàng trong suốt kỳ nghỉ.

Đây là là những mô hình đáng khao khát đối với đa phần người dân Mỹ – quốc gia duy nhất trong nhóm OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) không ban hành quy định về những kỳ nghỉ có trả lương dành cho người lao động. Tồi tệ hơn nghiên cứu cho thấy, rất nhiều người Mỹ dù được hưởng ngày nghỉ có trả lương nhưng vẫn lo sợ khi nhận đặc quyền này bởi áp lực nơi làm việc.

Tuy nhiên, trên thực tế tư tưởng nghỉ dưỡng của người châu Âu lại giúp thúc đẩy năng suất lao động hiệu quả.

Ban chỉ đạo thời gian làm việc của Liên minh châu Âu đảm bảo rằng người lao động ở khu vực này được hưởng ít nhất 20 ngày nghỉ có trả lương mỗi năm, so với đó, ở Mỹ thậm chí không có định chế về mức nghỉ hàng năm tối thiểu.

Một vài quốc gia châu Âu có quy định về thời gian nghỉ phép có trả lương như: Anh, Pháp, Áo, Đan Mạch, Phần Lan, Luxembourg và Thụy Điển. Tất cả các nước này thường yêu cầu có từ 25 hoặc hơn số ngày nghỉ có trả lương hàng năm.

Dữ liệu cho thấy thời gian nghỉ càng nhiều không hề khiến cho ra năng suất lao động thấp hơn. 9 trong 10 nước có năng suất lao động tốt nhất trong nhóm OECD năm 2015 nằm ở châu Âu (chỉ số tính theo GDP mỗi giờ làm việc). Nước Mỹ chỉ xếp thứ 6.

Katie Denis là Phó chủ tịch và nghiên cứu trưởng tại Time Off – dự án được gây quỹ bởi Hiệp hội du lịch Mỹ nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian nghỉ ngơi tại nơi làm việc trong nhiều năm. Bà cho rằng: “Ý tưởng cho rằng chúng ta đang hy sinh vô ích thời gian nghỉ ngơi là sai lầm”.

Trong báo cáo năm 2016 của dự án có chỉ rõ, người lao động có 11 hoặc hơn số ngày nghỉ thường nhận được sự tăng lương hoặc thưởng trong 3 năm trước đó nhiều hơn so với những người chỉ có 10 hoặc ít hơn số ngày nghỉ.

Thời gian nghỉ ngơi ngoài giờ làm việc có thể giúp bạn sáng tạo hơn. Những ý tưởng về kinh doanh như trang mạng xã hội Instagram hoặc vở nhạc kịch Hamilton đều được sáng tạo ra trong những kỳ nghỉ.

“Năng suất lao động, sự sáng tạo, những ý tưởng mới mẻ không tới từ những người làm việc điên cuồng. Thực tế nó sẽ tới từ những người tránh xa công việc hàng ngày của họ”.

Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra những lợi ích to lớn về mặt sức khỏe từ việc nghỉ ngơi, như giảm stress, sức khỏe tinh thần tốt hơn và thậm chí ít ít bị đau tim hơn.

“Nghỉ ngơi rất quan trọng bởi nó không chỉ giúp trí não hoạt động tốt hơn mà còn làm giảm ảnh hưởng vật lý lên cơ thể”, theo Kathleen Potempa – Giáo sư tại Đại học Michigan School nói.

Áp lực công việc quá tải là rào cản khiến nhiều người không dám tận hưởng những kỳ nghỉ dài. Nghiên cứu Time Off thực hiện trên hơn 7.000 người Mỹ nhận thấy 43% người lao động không dám nghỉ ngơi bởi họ sợ khi quay lại 1 đống công việc sẽ chờ đón. Chi phí cũng là một rào cản lớn với 32% nói rằng họ không đủ tiềm lực tài chính để thực hiện những kỳ nghỉ.

Tuy nhiên các chuyên gia nói rằng những kỳ nghỉ ngắn và thường xuyên, tránh xa văn phòng làm việc có thể mang lại ảnh hưởng to lớn tới năng suất lao động. Nhiều nghiên cứu cho rằng nên có 2 kỳ nghỉ mỗi năm để cải thiện những lợi ích về sức khoẻ.

Potempa cũng nói thêm rằng một điều quan trọng nữa là nhân viên phải loại bỏ hoàn toàn công việc khi họ đi nghỉ ngơi. Một nghiên cứu mới đây cho thấy 1/3 người Mỹ vẫn làm việc và kiểm tra email trong khi đi nghỉ.

“Điều quan trọng là biến việc đó trở nên thường xuyên khiến bạn không thể bỏ qua. Rõ ràng, nhiều ảnh hưởng tiêu cực sẽ xuất hiện với những người không đi nghỉ mát trong nhiều năm”.

Theo Phương Linh

Trí thức trẻ

Đằng sau những cuộc “xâm lăng kinh tế” của Trung Quốc vào châu Âu

Các nhà đầu tư Trung Quốc đang tiếp tục công cuộc “xâm chiếm” thị trường châu Âu, gia tăng ảnh hưởng tài chính và chính trị của nước này tại khu vực. Theo các chuyên gia kinh tế, đằng sau cuộc “xâm lăng kinh tế” này còn có nhiều ý đồ khác…

Nạn ăn cắp công nghệ, gián điệp kinh tế

Năm ngoái, châu Âu đã đánh bại thị trường Mỹ và trở thành điểm đến đầu tư lớn nhất ở nước ngoài của các doanh nghiệp Trung Quốc. Ông Dmitry Tratas, một chuyên gia tài chính và phân tích thị trường chứng khoán, đã chỉ ra một trong những lý do chính dẫn tới sự thay đổi trên là do chính sách kinh tế của Washington đối với Bắc Kinh.

Theo ông, Chính phủ Mỹ, đặc biệt là chính quyền Tổng thống Donald Trump và các chế định pháp lý của nước này đang gây ra ngày càng nhiều trở ngại đối với các nhà đầu tư của Trung Quốc vào thị trường Mỹ.

“Mối quan hệ thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc từ lâu vốn đã rất căng thẳng. Họ tuy là đối tác, nhưng trên thực tế Washington từng nhiều lần cáo buộc Bắc Kinh cạnh tranh không lành mạnh, hay áp dụng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch”, chuyên gia nói.

Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa qua đã ký văn bản yêu cầu điều tra các hoạt động ăn cắp công nghệ, gián điệp kinh doanh của Trung Quốc.

Trung Quốc vốn được nhiều nước xem là cái nôi của hàng nhái. Bởi dường như không có bất kỳ sản phẩm nào họ không làm lại được, từ đồ ăn nhanh, quần áo, đồ chơi tới máy bay, tên lửa.

Năm 2013, một nhóm cựu quan chức cấp cao Mỹ đã tiến hành một cuộc điều tra về vấn nạn ăn cắp bản quyền và vi phạm sở hữu trí tuệ. Theo đó, 50-80% các vụ vi phạm tại Mỹ có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, gián điệp kinh tế Trung Quốc nhằm vào Mỹ cũng tăng mạnh trong nhiều năm qua, đại đa số thủ phạm có quan hệ với Chính phủ nước này. Những công ty là nạn nhân lớn nhất phải kể tới tập đoàn quân sự Lockheed Martin, công ty hóa chất Dupont hay công ty sơn Valspar.

Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) đã nhiều lần vào cuộc điều tra vấn nạn này. Kết quả cho thấy, Trung Quốc là thủ phạm của 95% số vụ gián điệp kinh tế ở Mỹ.

Thủ đoạn của gián điệp kinh tế thường là dụ dỗ nhân viên các công ty Mỹ lấy dữ liệu quan trọng từ mạng máy tính. Bên cạnh đó, họ còn sử dụng thủ thuật xâm nhập máy tính, để chiếm đoạt tài sản trí tuệ, hay bí mật thương mại.

Năm 2014, FBI từng phát hành đoạn video trên YouTube để cảnh báo những thủ đoạn cài cắm gián điệp của Trung Quốc đối với các công ty Mỹ.

Thậm chí, Trung Quốc còn tuyển mộ các du học sinh Mỹ ở Trung Quốc làm gián điệp hoạt động thường xuyên ở Mỹ. Những du học sinh này thi vào các cơ quan ngoại giao, kinh tế, công nghiệp quốc phòng… của Mỹ với ý đồ làm gián điệp nằm vùng.

Những hoạt động như trên gây thiệt hại cho Mỹ tới vài trăm tỷ USD mỗi năm.

Mục đích sau việc đổ “hàng tấn” tiền vào châu Âu

Các công ty Trung Quốc hiện đang sở hữu “hàng tấn” tiền để đầu tư ra nước ngoài. Theo chuyên gia tài chính Tratas, kế hoạch ngầm của Bắc Kinh là “mở rộng tới tất cả các thị trường nơi có các công ty và tài sản có thể mua lại được”.

Bình luận sâu hơn về sự tập trung đầu tư của các tập đoàn, doanh nghiệp Trung Quốc vào châu Âu, ông Tratas giải thích, nền kinh tế tại các quốc gia phương Tây có xu hướng tự do và cởi mở hơn trong chính sách đầu tư nước ngoài so với Mỹ.

“Theo tôi, kiểm soát đầu tư nước ngoài ở châu Âu không khắt khe như những gì Chính phủ Mỹ đang thực hiện. Tuy nhiên, các công ty Trung Quốc không phải không cảm thấy áp lực với thị trường châu Âu. Nhưng sự áp lực này chỉ nằm trong cách tiếp cận của hàng hóa Trung Quốc với thị trường châu Âu, chứ không phải điều kiện đối với các hợp đồng mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A)”, ông Tratas nhấn mạnh.

Trong khi đó, theo chuyên gia Zhang Ning từ trung tâm Kinh tế và Tài chính, viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, một phần Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài là bởi sự mất giá của đồng Nhân dân tệ trong vài năm trở lại đây.

“Kể từ ngày 11/8/2015, tỷ giá đồng Nhân dân tệ bắt đầu tụt giảm, kết quả là nhiều doanh nghiệp Trung Quốc quyết định tập trung vào các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài. Hơn nữa, hoạt động đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng ở nội địa Trung Quốc đã bị hạn chế nên nhiều công ty tìm cách sở hữu các tài sản nước ngoài. Đây cũng là một phần trong những nỗ lực của giới kinh doanh Trung Quốc trong việc toàn cầu hóa sự phát triển cũng như nâng tầm tài sản của họ lên đẳng cấp quốc tế”, ông Zhang nói.

Theo một nghiên cứu bởi viện Nghiên cứu Trung Quốc Mercator (MERICS), đầu tư trực tiếp nước ngoài của Bắc Kinh vào châu Âu năm 2016 đạt 36 tỷ Euro, tăng 77% so với năm 2015.

Quốc gia điểm đến lớn nhất của nguồn tiền khổng lồ từ Trung Quốc chính là Vương quốc Anh, Đức, Pháp, chiếm 59% tổng số vốn đầu tư năm ngoái vào châu Âu.

Những ngành công nghiệp mà Bắc Kinh đầu tư ở châu lục này tập trung vào giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng, máy móc công nghiệp, năng lượng và hàng tiêu dùng.

Năm 2016, những ngành nêu trên chứng kiến mức tăng trưởng đạt 100 đến 150% trong đầu tư của Trung Quốc so với giai đoạn năm 2013-2015.

Đối với ba “ông lớn” của kinh tế châu Âu, Trung Quốc không chỉ muốn đầu tư vào các nền kinh tế phát triển mà còn muốn nhằm vào những quốc gia có vai trò đầu tàu chính trị. Trung Quốc tập trung vào thị trường Bắc Âu, khu vực kinh tế ổn định và có ảnh hưởng quyết định chính trị tới toàn châu Âu.

Tuy nhiên, họ cũng không lơ là Nam Âu, dù vùng này luôn tồn tại nhiều rủi ro kinh tế. Tại đây, Bắc Kinh muốn tăng cường vị thế chính trị của mình.

Theo ông Vladislav Belov, chuyên gia về Đức kiêm Giám đốc viện Nghiên cứu châu Âu tại đại học Khoa học Nga, việc Trung Quốc “bùng nổ” đầu tư vào thị trường châu Âu năm 2016 không phải vô tình.

“Đó là kế hoạch lâu dài mà Trung Quốc đã theo đuổi và năm qua chúng ta chứng kiến sự đỉnh điểm các hoạt động đầu tư của nước này. Năm ngoái là bước thực hiện mà doanh nghiệp Trung Quốc đã chuẩn bị trước đó. Đó chính là lý do vì sao các chuyên gia nhận định rằng năm nay hoạt động này có thể sẽ giảm bớt”, Belov nói.

D.T